This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Ai không được thực hành “nhịn ăn chữa bệnh”?

Gần đây là trường hợp nhịn ăn tới 49 ngày của doanh nhân Đặng Lê Nguyên Vũ mà vẫn khỏe mạnh..., khiến dư luận lại xôn xao. Nhiều bạn đọc đã gọi điện, gửi thư tới báo SK&ĐS hỏi thực hư và có nên hay không nên áp dụng “nhịn ăn chữa bệnh”,... Để giúp bạn đọc hiểu rõ vấn đề và có thể đưa ra quyết định đúng đắn, tốt cho sức khỏe của bản thân, chúng tôi giới thiệu bài viết của ThS. BS. Hoàng Khánh Toàn - Chủ nhiệm khoa Đông y, Bệnh viện TƯQĐ 108.

“Nhịn ăn chữa bệnh” theo quan niệm xưa?

Nhịn ăn là một trong những cách chữa bệnh cổ xưa. Ở Phương Tây, các nhà hiền triết và truyền giáo cổ xưa thường nhịn ăn bởi vì như họ nói: “No bụng thì không thích suy nghĩ”. Các nhà triết học Hy Lạp vĩ đại như: Socrates, Plato, Pytago... thường nhịn ăn trước khi viết các tác phẩm về triết học hoặc trước khi phải trải qua những kỳ kiểm tra đặc biệt vì theo họ nhịn đói sẽ kích thích khả năng trí tuệ. Ở Phương Đông, y học cổ truyền đã bàn luận và sử dụng phương pháp nhịn ăn với những tên gọi là “đoạn thực”, “đoạn cốc”, “tịch cốc” để phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe dưới hình thức đơn độc hoặc phối hợp với các biện pháp không dùng thuốc khác như châm cứu, xoa bóp, tập luyện khí công dưỡng sinh, yoga, thiền...

Tập luyện khí công cũng là một phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc. Ảnh: Trần Minh

Tập luyện khí công cũng là một phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc. Ảnh: Trần Minh

Quan niệm hiện nay về “nhịn ăn chữa bệnh”?

Trên thực tế, hiện nay vẫn tồn tại hai quan niệm về phương pháp nhịn ăn chữa bệnh và nâng cao sức khỏe. Quan niệm thứ nhất coi đây là một cách thức chữa bệnh không khoa học, vì cho rằng cơ thể mỗi ngày nhất thiết phải được cung cấp một lượng đồ ăn thức uống nhất định theo nguyên tắc đầy đủ, cân bằng và hợp lý để đảm bảo đủ năng lượng tối thiểu cho cơ thể hoạt động bình thường, những người nhịn ăn thường xuyên, đặc biệt là nhịn ăn quá dài sẽ khiến cơ thể suy mòn, nguồn năng lượng sẽ cạn kiệt, các chất dinh dưỡng sẽ thiếu hụt, ảnh hưởng không tốt tới hàng loạt các chức phận bên trong cơ thể đặc biệt là não, tạo nguy cơ gây nên nhiều bệnh lý thậm chí có thể gây tử vong, ví dụ như tình trạng hôn mê do tụt đường huyết. Từ đó cho rằng không nên nhịn ăn. Quan niệm thứ hai coi nhịn ăn là phương pháp chữa bệnh tự nhiên và vạn năng, thậm chí có thể chữa được cả bệnh ung thư. Họ cho rằng bệnh tật là do sự tích lũy chất độc trong cơ thể do ăn uống quá nhiều cả về lượng và chất. Có ý kiến cho rằng: “Không một loài thú nào bụng lại đầy thức ăn không tiêu bị lên men, thối rữa do ăn quá nhiều thức ăn không tự nhiên như cái gọi là “con người văn minh”. Theo tự nhiên, mỗi con vật đều nhịn đói theo bản năng khi bị ốm, nhưng con người lại đi lạc với tự nhiên quá xa, đáng lẽ khi thiếu sự ngon miệng vì ốm, cần nhịn ăn để thanh lọc cơ thể thì chúng ta lại nhồi nhét quá nhiều thức ăn để “tăng sức khỏe của mình”. Thực chất, quan niệm thứ nhất là mang tính thái quá, quan niệm thứ hai coi nhịn ăn là phương pháp chữa bách bệnh là không đúng. Điều quan trọng không phải là phủ định hay khẳng định một cách cực đoan phương pháp nhịn ăn chữa bệnh mà rất cần phải có những công trình nghiên cứu khoa học cả trên lý thuyết lẫn thực hành, cả trên thực nghiệm lẫn lâm sàng để làm sáng tỏ vấn đề này.

Người nào không được thực hành “nhịn ăn chữa bệnh”?

Hiện nay, trên thực tế không ít người vẫn thực hành nhịn ăn để phòng chống một số loại bệnh tật theo nhiều cách khác nhau. Ví như, nhịn ăn ngắn ngày khoảng 1 tuần, nhịn ăn dài ngày có khi kéo dài vài chục ngày, nhịn ăn vào ngày mồng 1 và 15 âm lịch, nhịn ăn tuyệt đối không ăn một tí gì kể cả nước (chỉ trong thời gian rất ngắn), nhịn ăn nhưng vẫn uống nước lọc, nhịn ăn kết hợp với thực hành thiền... Không thể phủ nhận là đã có trường hợp dùng cách nhịn ăn chữa một số bệnh, nhưng cũng đã xuất hiện những tai biến không đáng có khi thực hành liệu pháp này. Vậy nên, trong khi liệu pháp này được khuyến cáo là chưa nên khuyếnkhích thì việc thực hành cần chú ý đặc biệt những điều sau đây:

* Cần được khám, đánh giá và chẩn đoán chính xác tình trạng sức khỏe và bệnh tật, nên hỏi ý kiến bác sĩ hoặc các chuyên gia về dinh dưỡng xem có cần nhịn ăn hay không, nếu có cần và có thể nhịn ăn được hay không.

* Không áp dụng nhịn ăn ở những người suy kiệt, suy dinh dưỡng, thiếu máu, ung thư tiến triển, lao, AIDS, người mắc bệnh tiểu đường týp 1 (nhóm phụ thuộc insulin), bệnh gan, tim, thận nặng, hạ đường huyết, những trường hợp mắc bệnh cấp tính...

* Không được áp dụng cho trẻ em, phụ nữ có thai và cho con bú.

* Nên thực hành nhịn ăn một cách tăng dần, tránh đột ngột bất ngờ. Lúc đầu có thể chỉ ăn hoa quả và uống sữa, sau đó chỉ cần hoa quả và nước uống, sau đó chỉ nước và cuối cùng là không dùng gì cả. Người ốm hoặc yếu có thể thực hiện nhịn từ bữa trưa cho đến tận sáng hôm sau hoặc có thể uống nước hoa quả, sữa hoặc súp rau xanh.

* Chú ý lắng nghe cơ thể mình, nếu thấy bất cứ một dấu hiệu nặng nề nào thì phải ngừng nhịn ăn và tiến hành khám bệnh ở các cơ sở y tế có đủ tư cách pháp nhân.

* Khi ngừng nhịn ăn chú ý ăn lại từ từ theo nguyên tắc từ ít đến nhiều, từ lỏng đến đặc, từ dễ tiêu đến khó tiêu trong một thời gian nhất định theo hướng dẫn của các thầy thuốc và chuyên gia dinh dưỡng.

* Nên thực hiện theo nguyên tắc “tam nhân chế nghi” của y học cổ truyền là: nhân nhân chế nghi (tùy người mà dùng), nhân địa chế nghi (tùy nơi mà dùng) và nhân thời chế nghi (tùy lúc mà dùng).

ThS.BS. Hoàng Khánh Toàn

Những loại cua lạ gây ngộ độc

Cua mặt quỷ

Cua mặt quỷ là loại cua có độc phổ biến ở vùng biển nước ta, sinh sống ở vùng biển từ Đà Nẵng đến Vũng Tàu, thường gặp ở các rạn cạn, vùng triều thấp. Một người chỉ cần ăn khoảng 0,5g (1 thìa cà phê) thịt càng cua loại này là có thể bị ngộ độc thần kinh, dẫn đến tử vong. Độc tố trong cua mặt quỷ chủ yếu là Saxitonin, nằm ở thịt, trứng cua, nhiều nhất là thịt càng và chân cua.

Cua mặt quỷ.

Hiện nay vẫn chưa có thuốc giải độc đặc hiệu cho độc tố Saxitonin trong cua mặt quỷ. Biện pháp cấp cứu, điều trị hữu hiệu là làm cho bệnh nhân nôn sớm và nôn càng nhiều càng tốt, rửa dạ dày, uống than hoạt tính để thải loại bớt chất độc; hỗ trợ hô hấp, tuần hoàn (thở ôxy, truyền dịch, trợ tim mạch...).

Ngày 8/5 vừa qua, 3 công nhân ở Lý Sơn (Quảng Ngãi) đã phải nhập viện trong tình trạng tê cứng chân, tay, khó thở do ăn cua mặt quỷ. Do được cấp cứu kịp thời nên không ảnh hưởng đến tính mạng.

Cua đá biển

Ngày 27/5 vừa qua, một cháu bé 10 tuổi ở Quảng Trị bị ngộ độc sau khi ăn cua đá biển được bắt về từ đảo Cồn Cỏ. Sau khi ăn được 15 phút, cháu bé bị nôn và tử vong, em trai có dấu hiệu ngộ độc tương tự và được đưa đến bệnh viện tỉnh cấp cứu.

Cua đá biển.

Cua đá biển là một loài cua đất lớn thuộc chi Gecarcoidea, có vỏ màu tím sậm, chân dài và càng ngắn. Chúng là loài động vật ăn đêm, ban ngày trú ẩn trong các hang đào. Thức ăn chủ yếu của cua đá biển là các loại thực vật. Cua đá biển khi chín thì chuyển sang màu gạch.

Cua hạt

Cua hạt cũng là loại cua chứa chất độc nguy hiểm như cua mặt quỷ. Vỏ đầu ngực của chúng có dạng nửa vòng tròn, dài nhất khoảng 30mm, rộng nhất khoảng 40mm, được phủ kín bởi các u lồi dạng hạt. Cua sống có màu xanh lá cây đậm hơi vàng, đôi khi màu nâu vàng hoặc hơi đỏ tía.Đốt ngón các chân kìm có màu đen. Loại cua hạt thường được tìm thấy trên rạn san hô sống, ở độ sâu khoảng 3m, tại Hòn Tằm - Nha Trang.

Phòng ngộ độc do ăn cua lạ

Để phòng ngộ độc, tuyệt đối không sử dụng, không “thử nghiệm” các loại cua biển nghi ngờ có độc, các loài cua biển lạ, màu sắc sặc sỡ, hình thù kỳ quái để chế biến thành thức ăn. Tốt nhất những loại cua lạ chưa bao giờ ăn thì không nên dùng.

Khi bị ngộ độc do ăn cua lạ, người bệnh có biểu hiện tê rát, bỏng ở môi, đầu lưỡi, đau bụng và có thể xuất hiện thêm triệu chứng đau đầu, tê bì chân tay, đi đứng loạng choạng, rối loạn ý thức, hôn mê. Nặng thì có thể bị suy hô hấp cấp, trụy tim mạch và tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Để cấp cứu kịp thời, biện pháp hữu hiệu là kích thích cho bệnh nhân nôn càng sớm, càng nhiều càng tốt.Sau đó nhanh chóng chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời.

Thu Hà

Nguy hiểm: giãn tĩnh mạch thực quảnNguy hiểm: giãn tĩnh mạch thực quảnNhai mớm cho trẻ lợi bất cập hạiNhai mớm cho trẻ lợi bất cập hạiNhững sai lầm sau khi sex vào mùa nóngNhững sai lầm sau khi sex vào mùa nóng

Ngon ngọt, say say... dâu tằm ta

Tháng 4, dâu tằm ngoài Bắc chín rộ, các mẹt dâu tím lịm theo chân người bán đi khắp phố phường. Dâu tằm chín mà mua về ngâm siro thì... thôi rồi, mùa hè pha siro dâu, thả vài viên đá vào uống ngon không thể tả nổi. Nào thì mua: 2 cân dâu nhé. Ghé hàng tạp hóa, nhé 1 cân đường mai hoa (đường vàng) vào giỏ nữa là ổn.

Ngon ngọt, say say... dâu tằm taDâu ngâm đường.

Bắt tay vào làm siro dâu rất đơn giản. Dâu chín dễ dập nát nên khi rửa nhớ nhẹ tay. Mà cẩn thận hơn nữa là phải đeo găng tay nilon vào nếu không muốn rửa 2 cân dâu xong, hai bàn tay biến màu thành tím thương nhớ tới mấy ngày sau không hết. Rửa sạch dâu bằng nước lã, sau đó pha chậu nước muối nhạt rửa lại lần nữa. Dâu vớt ra rổ thưa để cho thật ráo nước. Khi ướp dâu, chọn thẩu hay nồi cũng được, thường thì mình hay ướp luôn vào nồi thủy tinh để tiện làm công đoạn sau. Cứ một lượt dâu rải một lớp đường cho tới khi hết. Để 1 ngày 1 đêm thường là đường sẽ tan hết, dâu cũng tiết ra rất nhiều nước. Khi đó ta đem nồi dâu lên bếp đun nhỏ lửa khoảng 40 phút. Thỉnh thoảng khuấy nồi dâu cho đều. Lúc này dâu đã tiết ra hết nước, chắt nước dâu ra để nguội, trữ vào lọ hoặc chai thủy tinh, cất vào tủ lạnh dùng dần.

Bã dâu có thể làm mứt, đừng bỏ kẻo phí hoài. Cho bã dâu vào máy xay sinh tố, xay thật nhuyễn rồi trút ra nồi. Lấy khoảng 1 lạng đường (có thể hơn nếu thích mứt ngọt hơn) trộn đều cùng 5 gam bột rau câu (bột aga). Đổ khoảng 2 cốc nước sôi (400ml) vào bột khuấy đều lên rồi đổ vào bã dâu đã xay nhuyễn. Đặt lên bếp sên lửa nhỏ vài phút là được. Nếu khi xay bã dâu đã thêm nước cho dễ xay thì nhớ giảm lượng nước pha rau câu. Thành phẩm mứt dâu là một hỗn hợp sánh đặc ngọt, có chút vị chua thanh thanh kín đáo. Mứt dâu bỏ vào lọ thủy tinh miệng rộng, khi ăn phết lên bánh mỳ rất ngon.

Minh Huệ

Món ăn thuốc cho người tiêu chảy mạn

Theo Y học cổ truyền, tiêu chảy mạn tính thuộc chứng tiết tả. Nguyên nhân phần nhiều do công năng tỳ vị suy giảm, ăn uống không phù hợp. Người bệnh có biểu hiện hay rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, đại tiện lúc lỏng, lúc táo, bụng đầy chậm tiêu, chán ăn, do vị hư. Dưới đây là món ăn thuốc ôn bổ tỳ vị, hóa thấp điều hòa tràng vị, rất tốt cho người tiêu chảy mạn.

Thịt gà hầm lá ngải: thịt gà lông vàng, lá ngải cứu, đậu xanh, hành, gia vị vừa đủ nấu cháo ăn tuần vài lần. Thịt gà vị ngọt, tính ấm, tác dụng điều hòa tỳ vị, bổ khí dưỡng huyết, chữa rối loạn tiêu hóa... Ngải cứu ôn trung tán hàn, ích tỳ vị hóa thấp... Đậu xanh bổ tỳ vị, giải phiền nhiệt, hạ khí, lợi ngũ tạng. Món ăn bổ dưỡng phòng trị chứng tỳ hư, tiêu chảy rất hiệu quả.

Cháo thịt dê: thịt dê, dạ dày dê, đậu xanh, gạo tẻ, gừng, hành, tiêu gia vị vừa đủ nấu cháo ăn. Thịt dê, dạ dày dê tác dụng ấm trung tiêu, bổ hư, kiện kỳ, ích vị, chữa các chứng tỳ vị hư hàn. Đậu xanh bổ tỳ, thanh nhiệt giải độc, trừ phiền nhiệt, lợi ngũ tạng. Gạo tẻ ích khí bổ tỳ, hòa vị, chỉ tả, lỵ. Gừng, hành kiện tỳ khai vị. Món ngon bổ, rất tốt cho người hay bị buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy.

Canh dạ dày lợn hạt sen: dạ dày lợn, hạt sen, gừng, hành, tiêu gia vị hầm ăn. Dạ dày lợn bổ tỳ vị, chữa đau dạ dày do lạnh. Hạt sen bổ tỳ, dưỡng tâm, ích thận, chữa rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy kéo dài, kiết lỵ. Gừng, hành kiện tỳ khai vị kích thích tiêu hóa. Món ngon bổ, phòng trị tiêu chảy.

Lẩu chim bồ câu: thịt chim bồ câu, nấm hương, nấm mỡ, cải cúc, hành mùi tiêu gia vị hầm ăn. Chim bồ câu ích ngũ tạng, bổ khí huyết, trợ tỳ dương. Rau cải cúc kiện tỳ vị, tiêu đàm, giáng hỏa. Nấm hương bổ tỳ, ích khí, dưỡng huyết lợi ngũ tạng. Nấm rơm tiêu thực, trừ thấp nhiệt giảm cholesterol. Món ngon bổ, rất tốt cho người tiêu chảy ăn kém.

Món ăn thuốc cho người tiêu chảy mạnẾch om chuối đậu ngon, bổ dưỡng, chữa chứng tỳ vị hư...

Ếch om chuối: thịt ếch, đậu phụ, chuối sứ, nghệ, tía tô, lá lốt gia vị vừa đủ hầm ăn. Thịt ếch bổ tỳ ích vị, thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu. Chuối bổ tỳ vị, chữa rối loạn tiêu hóa. Đậu phụ tư âm, bổ huyết, thanh nhiệt, hóa đàm. Lá lốt, tía tô, nghệ, vị cay ấm, tác dụng khử hàn, trừ thấp, kiện tỳ, khai vị giúp ăn ngon. Món ngon bổ dưỡng chữa chứng tỳ vị hư tiêu chảy.

Chè đậu đỏ hạt sen: đậu đỏ, hạt sen, táo đỏ, củ sen, gạo đỏ, đường cát gia vị vừa đủ nấu chè ăn. Hạt sen, củ sen, bổ tỳ, dưỡng tâm, ích thận, chữa tỳ vị hư, tiêu chảy kiết lỵ kéo dài. Đậu đỏ thanh nhiệt, giải độc, bổ tỳ vị, lợi tiểu, tiêu phù. Táo đỏ bổ tỳ vị nhuận phế, chữa rối loạn tiêu hóa, ăn ngủ kém. Gạo đỏ bổ tỳ, hòa vị, chỉ tả, lỵ. Đường phèn bổ trung ích khí, hòa vị nhuận phế. Tác dụng bổ ích tỳ vị, phòng trị tiêu chảy.

Cá diếc kho sung: cá diếc, trái sung gần chín, nấm hương, mắm muối kho ăn. Cá diếc kiện tỳ, lợi khí, khai vị, chữa ăn kém, mệt mỏi, tả lỵ. Quả sung ích tỳ vị, chữa chứng lạnh bụng tiêu chảy. Nấm hương bổ tỳ, ích khí, dưỡng huyết lợi ngũ tạng. Món ngon, rất tốt cho người tỳ vị hư rối loạn tiêu hóa.

Sinh tố trái cây: táo, ổi chín, sapôchê liều bằng nhau xay ép nước uống hoặc làm salat ăn. Táo bổ tỳ vị, nhuận phế, chữa rối loạn tiêu hóa, ăn ngủ kém. Quả sapôchê giàu vitamin, có tannin kháng vi khuẩn, virut. Ổi chín thu liễm kiện vị cố tràng, trị tiêu chảy, tiêu khát. Món ngon bổ, rất thích hợp người tỳ vị hư hàn hay tiêu chảy.

Ngoài ra, người bệnh nên ăn nhiều khoai tây, giá đậu, mơ lông, rau mùi, thì là, rau răm; rau thơm, gia vị như: gừng, nghệ, hành, kiệu, tiêu, tỏi…; trái cây như: táo, quýt, nhãn na, sầu riêng, lựu…; chất đạm như: dạ dày heo, bò, dê, gà, chim cút; cá trắm, cá lóc, mực; đậu ván, đậu đũa, đậu ve… đều là thực phẩm bổ tỳ vị dễ hấp thu, phòng trị rối loạn tiêu hóa, tỳ vị hư. Kiêng các món: cam, cà, nước dừa, nước lạnh và các loại rau củ quả có vị chua quá, đắng quá.

Lương y Phan Thị Thạnh

Người bệnh tiểu đường có nên ăn đu đủ?

Người bệnh tiểu đường có thể ăn đu đủ và dưới đây là những lý do:

Ít đường

Đu đủ chứa ít đường (8,3g trong một cốc đu đủ). Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một thành phần nào đó trong đu đủ có thể làm chậm sự tiến triển của bệnh tiểu đường týp 2. Nó cũng giàu một loại enzym gọi là papain, giúp bảo vệ người bệnh tiểu đường khỏi tổn thương do gốc tự do gây nên.

Người bệnh tiểu đường có nên ăn đu đủ?

Giàu vitamin

Đu đủ chứa nhiều vitamin A, C, canxi, magiê, sắt…giúp bạn tránh khỏi bệnh tim. Vì có thuộc tính hạ đường huyết, đu đủ có thể ngăn ngừa bệnh tim liên quan tới tiểu đường.

Chứa nhiều chất xơ

Đu đủ cũng chứa nhiều chất xơ. Một lượng đu đủ trong bữa ăn nhẹ sẽ giúp bạn no lâu và ngăn bạn khỏi thói quen ăn uống không lành mạnh.

Chỉ số đường huyết thấp

Đu đủ cũng có chỉ số đường huyết thấp, điều này có nghĩa nó sẽ giải phóng đường tự nhiên một cách từ từ và không làm tăng hàm lượng đường huyết.

Vì những lý do trên, người bệnh tiểu đường có thể ăn đu đủ. Ngoài ra, người bệnh tiểu đường cũng có thể ăn những loại quả như việt quất, bơ, dưa hấu, mận và ổi.

BS Thu Vân

(Theo Boldsky)

Thịt đỏ, cách ăn để tránh hại

Thực hư của vấn đề này thế nào? Bài viết dưới đây của chuyên gia ngành sinh học thực phẩm sẽ giúp bạn đọc có cái nhìn rõ hơn về vấn đề này.

Thịt nào gọi là thịt đỏ và thịt chế biến?

Thịt đỏ bao gồm: thịt bò, thịt cừu, thịt heo, thịt bê, thịt nai, thịt dê. Không bao gồm: thịt gà tây, thịt vịt, thịt ngan, thịt chim, thịt gà, thịt thỏ.

Thịt chế biến là thịt được bảo quản bằng xông khói, ướp muối hoặc thêm chất bảo quản. Nó bao gồm xúc xích, thịt xông khói, lạp xưởng, salami.

Lợi ích dinh dưỡng của thịt đỏ

Thịt đỏ có chất sắt cao, chất mà nhiều chị em và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ hay bị thiếu. Hơn nữa, sắt ở dạng heme trong thịt đỏ dễ dàng hấp thụ vào cơ thể.

Ngoài ra, thịt đỏ cung cấp vitamin B12 - chất giúp tạo ra DNA và giữ cho các dây thần kinh và các tế bào khỏe mạnh và kẽm - chất giữ cho hệ thống miễn dịch hoạt động.

Thịt đỏ, cách ăn để tránh hạiNếu nướng thịt, nên xiên nướng trộn lẫn thịt, trái cây và rau; thực phẩm từ thực vật không tạo ra các chất gây ung thư khi nướng.

Thịt đỏ cung cấp chất đạm, giúp hình thành xương và cơ. Những người ủng hộ thịt đỏ còn cho rằng thịt bò là một trong những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nhất. Một khẩu phần ăn thịt bò 80g cung cấp chỉ 180 calo nhưng bạn sẽ có 10 dưỡng chất thiết yếu.

Tăng nguy cơ ung thư và bệnh tim khi sử dụng quá nhiều thịt đỏ

Một số loại thịt đỏ có hàm lượng chất béo bão hòa cao, làm tăng lượng LDL-choresterol trong máu. Lượng choresterol xấu này cao làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch và mắc bệnh tim.

Một nghiên cứu gần đây của Viện nghiên cứu y tế Mỹ với hơn nửa triệu người dân Mỹ đã kết luận rằng những người ăn thịt đỏ và thịt đã qua chế biến trong 10 năm thì chết sớm hơn những người ăn lượng ít hơn. Những người ăn khoảng 110g (4 ouces) thịt đỏ mỗi ngày có nguy cơ chết do ung thư hoặc bệnh tim hơn những người ăn cực ít, chỉ khoảng 15g (1/2 ounce) mỗi ngày.

Theo dõi hơn 72.000 phụ nữ trong 18 năm cho thấy những người ăn kiểu phương Tây có nhiều thịt đỏ, đồ ngọt tráng miệng, ngũ cốc tinh chế và khoai tây chiên có nhiều nguy cơ mắc bệnh tim, ung thư đại trực tràng và chúng là nguyên do dẫn đến tử vong.

Nguyên nhân gây gia tăng ung thư của thịt đỏ được các nhà nghiên cứu đặt giả thuyết là do:

Chất béo bão hòa có liên quan đến ung thư ruột già, ung thư vú, cũng như là bệnh tim.

Chất gây ung thư hình thành khi thịt được nấu chín.

Sắt ở dạng heme, một loại sắt tìm thấy chủ yếu trong thịt, có thể sản xuất ra các hợp chất có thể làm hỏng tế bào dẫn đến ung thư.

Thịt đỏ ăn bao nhiêu và thế nào cho an toàn?

Bộ Y tế Anh khuyến cáo những người ăn nhiều hơn 90g thịt đỏ và thịt chế biến mỗi ngày nên cắt giảm xuống 70g, đó là mức tiêu thụ trung bình hàng ngày ở Anh. 70g tương đương với khoảng 2 lát thịt bò nướng, thịt cừu hoặc thịt lợn, trong đó mỗi lát bằng khoảng nửa cái bánh mỳ cắt lát. Khi bạn cắt giảm xuống 70g sẽ làm giảm nguy cơ ung thư ruột. Tránh tất cả các loại thịt đã qua chế biến như xúc xích, giăm bông…

Khúc thịt đỏ lành mạnh nhất phải tìm đến các phần “thăn”: thăn bò, thăn lợn, thăn cừu băm...

Thịt bò: nên lấy vùng xung quanh mắt và xung quanh mông, vai bò, phi lê, sườn nướng hay tay bò quay cũng là những phần thịt ngon và ăn được. Nếu thịt bò xay thì chọn ít nhất 95% nạc.

Thực ra thì chế độ nấu ở nhiệt độ cao với bất kỳ loại thịt nào, bao gồm thịt đỏ, thịt gia cầm, cá, có thể tạo ra các hợp chất làm tăng nguy cơ ung thư. Chúng được gọi là các hợp chất amine: heterocyclic amines (HCAs) và polycyclic aromatic hydrocarbons (PAHs). Vậy làm thế nào có thể giảm các hợp chất gây ung thư khi nướng?

Chọn phần thịt nạc khi nướng hay cắt phần mỡ từ thịt trước khi nướng để giảm nguy cơ bùng lửa hoặc khói nặng, 2 dấu hiệu cho thấy việc sẽ tạo ra chất gây ung thư trên thịt.

Khi nướng thì dùng nhiệt độ vừa phải hoặc nhiệt gián tiếp, thay vì nhiệt độ cao dễ gây cháy, nấu chín quá hoặc cháy đen.

Đừng nấu chín quá, thịt nấu chín quá có chứa nhiều chất gây ung thư. Nhưng ngược lại, phải chú ý rằng thịt đã được nấu chín đến một nhiệt độ an toàn để làm sạch các vi khuẩn gây bệnh trong thực phẩm. Đối với thịt bò, thịt lợn thì nên nấu đến nhiệt độ bên trong miếng thịt khoảng 60-700C, giữ 3 phút. Miếng thịt to thì cộng thêm 50C.

Gia vị: gia vị ướp có thể giúp giảm hình thành chất gây ung thư. Chọn gia vị không có đường, chất dẫn đến nguy cơ cháy bề mặt thịt.

Lật thịt thường xuyên. Sử dụng kẹp hoặc xẻng thay nĩa để ngăn nước từ thịt chảy ra nhỏ giọt làm cháy. Đừng ép miếng thịt bằng xẻng để tránh nước từ thịt chảy ra.

Đừng nướng và ăn toàn thịt, hãy thử cả xiên nướng trộn lẫn thịt, trái cây và rau. Thực phẩm từ thực vật không tạo ra các chất gây ung thư khi nướng.

Bất kỳ miếng thịt nào cháy thì đều nên bỏ đi, đừng tiếc của hại thân.

TS. Lê Đoàn Thanh Lâm

Vẩy nến da đầu, kiêng ăn gì?

Nguyễn Thuý Hoài(thuyhoai1978@gmail.com

Vẩy nến là bệnh lí về da mạn tính, có tính chu kì. Bệnh thường gây ngứa ngáy, khó chịu, đặc biệt vẩy nến vùng da đầu là hay gặp hơn cả. Là bệnh tương đối lành tính, tuy khó chữa nhưng không gây hậu quả hiểm nghèo.

Bệnh có tính cơ địa di truyền và cơ chế tự miễn dịch. Ngoài ra, stress, nghiện bia, rượu, thuốc lá, nhiễm khuẩn, rối loạn nội tiết, rối loạn chuyển hóa, khí hậu, môi trường cũng là yếu tố khởi phát bệnh…

Biểu hiện thường thấy nhất của bệnh vẩy nến là những mảng đỏ có kích thước khác nhau, hơi gồ lên, cứng cộm và có ranh giới rất rõ với vùng da bên cạnh. Những thương tổn vẩy nến thường có khuynh hướng lan ra phía trước, ở trán, tạo thành hình móng ngựa. Những trường hợp nặng có thể lan rộng khắp da đầu và xuất hiện vẩy da. Tóc ở những vị trí đó vẫn mọc xuyên qua lớp vẩy da bình thường.

Về điều trị, cần tuân thủ việc dùng thuốc do bác sĩ da liễu khám và chỉ định. Tuy nhiên, một chế độ ăn uống hợp lí đôi khi có tác dụng còn hiệu quả hơn cả sử dụng các loại thuốc điều trị vảy nến.

Người bệnh nên ăn các loại thực phẩm giàu omega-3, kẽm, beta-caroten, axit folic... như cá thu, cá hồi, cá ba sa, ngao, sò,vừng đen, bông cải xanh... bơ, xoài...

Tránh đồ ăn nhiều protein và tanh: tôm, cua, ghẹ, măng, cà, gà, trứng… và đồ uống có chất kích thích: rượu, bia, cafe, trà, thuốc lá, tiêu, ớt... Thận trọng với dầu gội, sữa tắm và thuốc nhuộm tóc...

BS. Vũ Lan Anh